Tham Vấn Pháp Luật
  • An Ninh – Trật Tự
  • Giáo dục
  • Kinh tế
  • Kinh tế hội nhập
  • Luật sư
  • Nghiên cứu – Trao đổi
  • Pháp luật
  • Quốc tế
  • Xã hội
  • An Ninh – Trật Tự
  • Giáo dục
  • Kinh tế
  • Kinh tế hội nhập
  • Luật sư
  • Nghiên cứu – Trao đổi
  • Pháp luật
  • Quốc tế
  • Xã hội
Không có kết quả
Xem tất cả kết quả
Tham Vấn Pháp Luật
Không có kết quả
Xem tất cả kết quả
Trang chủ Nghiên cứu – Trao đổi

Luật gia Hồ Minh Sơn: Yếu tố pháp lý về hợp đồng phái sinh khi doanh nghiệp bước vào thủ tục phá sản và phạt cọc trong tranh chấp hợp đồng

Tháng Mười Một 3, 2026
trong Nghiên cứu – Trao đổi
Luật gia Hồ Minh Sơn: Yếu tố pháp lý về hợp đồng phái sinh khi doanh nghiệp bước vào thủ tục phá sản và phạt cọc trong tranh chấp hợp đồng

(TVPLO) – Hưởng ứng Ngày Pháp luật Việt Nam năm 2026, tại Điều 8 Luật phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 quy định: “Ngày 09/11 hằng năm là Ngày Pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Ngày Pháp luật được tổ chức nhằm tôn vinh Hiến pháp, pháp luật, giáo dục ý thức thượng tôn pháp luật cho mọi người trong xã hội”.

Vào sáng ngày 03/11/2026, Viện Nghiên cứu Thị trường – Truyền thông Quốc tế (IMRIC) phối hợp Viện Nghiên cứu Chính sách pháp luật&Kinh tế hội nhập (IRLIE) tổ chức buổi tuyên truyền, phổ biến pháp luật miễn phí bằng hình thức trực tiếp và trực tuyến…Tại buổi tuyên truyền, luật gia Hồ Minh Sơn – Viện trưởng Viện IMRIC; Giám đốc Trung tâm tư vấn pháp luật Toàn Tâm (TTLCC) đã giải đáp hai trường hợp cho các doanh nghiệp là thành viên của CLB DN IMRIC – IRLIE và CLB Báo chí Truyền thông và Chính sách pháp luật.

Trường hợp 1: Yếu tố pháp lý đối với hợp đồng phái sinh khi doanh nghiệp bước vào thủ tục phá sản

Mới đây, Chính phủ đã ban hành Nghị định 318/2026/NĐ-CP – đặt ra cơ chế đặc thù đối với hợp đồng phái sinh lãi suất có điều khoản thanh toán ròng khi doanh nghiệp bước vào thủ tục phá sản.

Qua tham chiếu Nghị định 318/2026/NĐ-CP thiết lập cơ chế riêng đối với hợp đồng phái sinh lãi suất có điều khoản thanh toán ròng.

Tại khoản 1 Điều 6 Nghị định 318/2026 có quy định: Trường hợp không tạm đình chỉ, đình chỉ thực hiện hợp đồng đang có hiệu lực theo quy định tại khoản 1, khoản 5 Điều 51 Luật Phục hồi, phá sản…

Căn cứ vào khoản 1 và khoản 5 Điều 51 Luật Phục hồi, phá sản – hợp đồng phái sinh lãi suất có điều khoản về thanh toán ròng đang có hiệu lực tại thời điểm Tòa án thụ lý đơn yêu cầu áp dụng thủ tục phá sản hoặc tại thời điểm Tòa án ra quyết định mở thủ tục phá sản không bị tạm đình chỉ, không bị đình chỉ…

Vì vậy, nếu hợp đồng là hợp đồng phái sinh lãi suất có điều khoản về thanh toán ròng đang có hiệu lực thì việc Tòa án thụ lý đơn yêu cầu áp dụng thủ tục phá sản hoặc ra quyết định mở thủ tục phá sản sẽ không mặc nhiên bị tạm đình chỉ hoặc đình chỉ thực hiện.

Nếu phát sinh thủ tục phá sản, việc đầu tiên doanh nghiệp cần làm là rà soát hợp đồng, xác định hợp đồng có thuộc nhóm hợp đồng phái sinh lãi suất có điều khoản về thanh toán ròng và còn hiệu lực tại thời điểm giải quyết thủ tục phá sản hay không để đưa ra những giải pháp phù hợp.

Quý doanh nghiệp có thể hiểu, đây là cơ chế cho phép các bên xác định nghĩa vụ cuối cùng sau khi bù trừ các khoản phải trả theo những hợp đồng giữa họ.

Theo quy định được đề cập trong Nghị định, khi chấm dứt các hợp đồng tại hoặc trước thời điểm đến hạn, các bên xác định và thanh toán một khoản tiền ròng sau khi bù trừ các khoản phải trả. Cơ chế này đặc biệt quan trọng khi một bên rơi vào thủ tục phá sản sẽ cần tuân thủ quy định pháp luật về thứ tự thanh toán nợ.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 4 Nghị định 318 – đối với những hợp đồng phái sinh lãi suất có điều khoản về thanh toán dòng sẽ vẫn được tiếp tục xử lý tài sản bảo đảm mà hoàn toàn không bị Tòa án thụ lý đơn yêu cầu phá sản áp dụng thủ tục phục hồi, phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã…

Căn cứ vào khoản 1 Điều 5 nghị định 318 – đối với các khoản thanh toán hoặc bù trừ dựa trên cơ sở hợp đồng phái sinh lãi suất có điều khoản về thanh toán dòng trong thời gian 06 tháng trước ngày Tòa án ra quyết định mở thủ tục phá sản thì không bị coi là vô hiệu. Mặc dù vậy, doanh nghiệp cũng phải cung cấp được các căn cứ để chứng minh về điều khoản thanh toán ròng, thời điểm thanh toán, dữ liệu về thanh toán, bù trừ…nằm trong thời hạn quy định.

Tuy nhiên, đối với các loại hợp đồng khác thì sẽ do Tòa án xem xét và xử lý theo qy định pháp luật. Do đó, đối với giao dịch phái sinh, doanh nghiệp không nên chỉ lưu bản hợp đồng.

Trong đó, hợp đồng, phụ lục, thỏa thuận thanh toán ròng, chứng từ thanh toán, bảng tính nghĩa vụ phải thu – phải trả, dữ liệu bù trừ và căn cứ xác định giá trị chênh lệch đều cần được quản lý đầy đủ. Email, xác nhận giao dịch điện tử, dữ liệu kế toán và hồ sơ tài sản bảo đảm nếu có cũng cần được lưu giữ. Mặt khác, doanh nghiệp cần tạo được “dấu vết giao dịch” hoàn chỉnh, từ xác lập hợp đồng, thực hiện, thanh toán, bù trừ cho tới xác định giá trị ròng.

Đối với hợp đồng phái sinh lãi suất có điều khoản thanh toán ròng được xác lập trước thời điểm Tòa án ra quyết định mở thủ tục phá sản, các bên có thể thực hiện bù trừ nghĩa vụ theo thỏa thuận khi xảy ra sự kiện phá sản theo quy định.

Có thể thấy, bao gồm chấm dứt toàn bộ các hợp đồng phái sinh lãi suất giữa một bên với cùng một đối tác, sau đó xác định và bù trừ các khoản tiền phải trả để hình thành một giá trị chênh lệch duy nhất về tài sản. Qua đó, việc bù trừ này không phải báo cáo Thẩm phán để lấy ý kiến trước khi thực hiện.

Do vậy, căn cứ theo quy định tại Nghị định 318 và Điều 53 Luật phục hồi phá sản năm 2025 – sau khi Tòa án mở thủ tục phá sản, đối với các hợp đồng phát sinh lãi suất có điều khoản về thanh toán ròng xác lập trước thời điểm Tòa mở thủ tục vẫn có thể tiếp tục thực hiện bù trừ nghĩa vụ…

Ngoài ra, việc bù trừ nhằm xác định giá trị tài sản chênh lệch giữa các bên. Sau khi có kết quả bù trừ, việc thanh toán phần giá trị chênh lệch vẫn phải tuân thủ pháp luật về phục hồi, phá sản. Quý doanh nghiệp, không nên hiểu rằng một bên được phép bù trừ thì đương nhiên có quyền nhận ngay khoản chênh lệch, tách khỏi trình tự xử lý tài sản trong thủ tục phá sản.

Nghị định còn quy định trường hợp việc xử lý tài sản bảo đảm của chủ nợ có bảo đảm trong hợp đồng phái sinh lãi suất có điều khoản thanh toán ròng không bị tạm dừng khi Tòa án thụ lý đơn yêu cầu áp dụng thủ tục phục hồi, phá sản.

Khi được yêu cầu, chủ nợ phải cung cấp thông tin về tài sản, lý do không tạm dừng xử lý, thời gian và địa điểm xử lý tài sản bảo đảm. Hồ sơ về tài sản bảo đảm cũng phải được doanh nghiệp quản lý đầy đủ, đồng bộ với hồ sơ của giao dịch phái sinh.

Doanh nghiệp không nên đợi đến khi phát sinh khó khăn tài chính hoặc thủ tục phá sản mới kiểm tra hồ sơ. Ngay trong quá trình hoạt động bình thường, doanh nghiệp cần rà soát điều khoản thanh toán ròng, quản trị đầy đủ dữ liệu giao dịch, bảo đảm số liệu hợp đồng và kế toán có thể đối chiếu; đồng thời xác định rõ nghĩa vụ bù trừ và phân biệt giữa xác định giá trị ròng với thanh toán tài sản trong thủ tục phá sản. Việc quản trị tốt hợp đồng và dữ liệu ngay từ đầu sẽ giúp doanh nghiệp có cơ sở bảo vệ quyền lợi và hạn chế tranh chấp nếu rủi ro tài chính phát sinh.

Trường hợp thứ 2: Yếu tố pháp lý để căn cứ phạt cọc trong tranh chấp hợp đồng

Kể từ ngày 15/10/2026, Nghị quyết số 03/2026/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán TANDTC có hiệu lực, hướng dẫn giải quyết tranh chấp về đặt cọc. Nghị quyết làm rõ hiệu lực thỏa thuận, căn cứ phạt cọc, xử lý tiền lãi, bồi thường thiệt hại và thời hiệu khởi kiện.

Ban hành ngày 18/8/2026, Nghị quyết số 03/2026/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết tranh chấp về đặt cọc. Một nội dung đáng chú ý là việc xác định hiệu lực thỏa thuận đặt cọc độc lập với những vướng mắc trong giao kết, thực hiện hợp đồng được bảo đảm.

Theo Nghị quyết, thỏa thuận đặt cọc có hiệu lực khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện tại Điều 117 Bộ luật Dân sự. Tại Điều 119 Bộ luật Dân sự – việc thỏa thuận có thể được lập thành hợp đồng riêng hoặc thể hiện bằng điều khoản trong hợp đồng có nghĩa vụ được bảo đảm; hình thức thực hiện. Nếu luật khác yêu cầu thỏa thuận đặt cọc phải bằng văn bản thì phải tuân thủ quy định đó.

Trong trường hợp nội dung thỏa thuận đặt cọc không rõ ràng, dẫn đến hợp đồng không được giao kết hoặc thực hiện, thỏa thuận đặt cọc vẫn có hiệu lực nếu đáp ứng điều kiện luật định.

Nghị quyết nêu ví dụ, các bên đặt cọc để bảo đảm giao kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nhưng chưa rõ về kích thước, giá chuyển nhượng, khiến một bên từ chối giao kết. Ở trường hợp này, không thể chỉ dựa vào những nội dung chưa rõ để xác định hợp đồng đặt cọc vô hiệu.

Tương tự, thỏa thuận đặt cọc để bảo đảm giao kết hợp đồng vẫn có thể có hiệu lực dù tại thời điểm đặt cọc, hợp đồng được bảo đảm sẽ bị vô hiệu nếu được giao kết.

Điển hình, tại Điều 117 Bộ luật Dân sự – các bên đặt cọc đối với thửa đất chưa đứng tên bên nhận cọc, đồng thời ấn định thời hạn để bên này được cấp giấy chứng nhận nhằm chuyển nhượng. Hết thời hạn mà chưa được cấp giấy chứng nhận, hợp đồng đặt cọc vẫn có hiệu lực nếu đáp ứng đầy đủ điều kiện.

Đối với tài sản đặt cọc, Nghị quyết hướng dẫn tài sản phải đáp ứng các điều kiện như không bị cấm, hạn chế giao dịch theo pháp luật, có thể giao cho bên nhận cọc nắm giữ và xác định được giá trị bằng tiền tại thời điểm đặt cọc, trừ trường hợp pháp luật quy định khác.

Nếu như các bên không thỏa thuận về phạt cọc, nếu bên nhận cọc từ chối giao kết, thực hiện hợp đồng thì phải trả lại tài sản đặt cọc và trả thêm khoản tiền tương đương giá trị tài sản đó. Nếu bên đặt cọc từ chối giao kết, thực hiện hợp đồng, tài sản đặt cọc thuộc về bên nhận cọc.

Trong trường hợp các bên thỏa thuận mức tiền phạt cọc vượt quá giá trị hợp đồng được bảo đảm giao kết hoặc thực hiện, Tòa án xem xét, quyết định mức phạt không vượt quá giá trị hợp đồng tại thời điểm xét xử sơ thẩm.

Nghị quyết còn làm rõ cách xử lý khi các bên không có thỏa thuận khác: bên có lỗi khiến hợp đồng không được giao kết, không được thực hiện hoặc bị vô hiệu phải chịu phạt cọc. Trong trường hợp cả hai bên cùng có lỗi hoặc do sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan thì không phạt cọc.

Phân tích thêm, nếu bên nhận cọc cam kết hoàn tất thủ tục cấp giấy chứng nhận trong ba tháng nhưng không thực hiện được do nguyên nhân từ cơ quan nhà nước có thẩm quyền, dù đã nộp hồ sơ đúng quy định. Ở trường hợp này được xác định là trở ngại khách quan và bên nhận cọc không phải chịu phạt cọc.

Mục đích đặt cọc cũng quyết định việc xử lý. Nếu đặt cọc chỉ nhằm bảo đảm giao kết hợp đồng và hợp đồng đã được giao kết, những vi phạm phát sinh trong quá trình thực hiện, hoặc việc sau đó mới phát hiện hợp đồng vô hiệu, không dẫn đến phạt cọc. Việc tranh chấp khi đó được giải quyết theo quy định về vi phạm hợp đồng hoặc hậu quả của hợp đồng vô hiệu.

Đối với tiền lãi, tại Điều 357 Bộ luật Dân sự – Tòa án xem xét yêu cầu tính lãi trên khoản tiền đặt cọc, tính từ ngày liền sau ngày phát sinh nghĩa vụ hoàn trả. Không chấp nhận yêu cầu tính lãi trên tiền phạt cọc, trừ trường hợp pháp luật hoặc thỏa thuận có quy định khác.

Tại Điều 419 BLDS – khi các bên không có thỏa thuận, Tòa án xem xét, chấp nhận cả yêu cầu phạt cọc và bồi thường thiệt hại. Mặc dù vậy, tại Điều 418 – nếu các bên thỏa thuận đồng thời phạt cọc và phạt vi phạm, Tòa án xem xét, chấp nhận yêu cầu phạt cọc, không chấp nhận yêu cầu phạt vi phạm.

Nghị quyết phân biệt thời hiệu khởi kiện đối với các yêu cầu về hợp đồng đặt cọc và yêu cầu đòi lại tài sản đặt cọc. Căn cứ vào khoản 2 Điều 155 BLDS – với yêu cầu đòi lại tài sản đặt cọc, Tòa án không áp dụng thời hiệu khởi kiện.

Trên đây là hai trường hợp được quý doanh nhân quan tâm, nếu có gì vướng mắc cần làm rõ, rất mong quý vị liên hệ trực tiếp Trung tâm tư vấn pháp luật Toàn Tâm để được tham vấn, hỗ trợ miễn phí…

CTV TVPL Bùi Văn Hải – Trung tâm tư vấn pháp luật Toàn Tâm

Bài viết liên quan

Luật sư giả, công ty luật “dỏm”: Không thể để người dân mất tiền mới biết mình bị lừa 
Nghiên cứu – Trao đổi

Luật sư giả, công ty luật “dỏm”: Không thể để người dân mất tiền mới biết mình bị lừa 

Tháng Mười 29, 2026
Luật gia Hồ Minh Sơn: Lưu ý về đặt cọc và bị xử lý thế nào khi cố tình khai thấp giá chuyển nhượng bất động sản
Nghiên cứu – Trao đổi

Luật gia Hồ Minh Sơn: Lưu ý về đặt cọc và bị xử lý thế nào khi cố tình khai thấp giá chuyển nhượng bất động sản

Tháng Mười 27, 2026
Sửa Luật Đất đai: Gỡ vướng cho dự án, bảo vệ quyền lợi người dân 
Nghiên cứu – Trao đổi

Sửa Luật Đất đai: Gỡ vướng cho dự án, bảo vệ quyền lợi người dân 

Tháng Mười 23, 2026
Dự thảo Luật Nhà ở: Bổ sung chương riêng về nhà cho thuê
Nghiên cứu – Trao đổi

Dự thảo Luật Nhà ở: Bổ sung chương riêng về nhà cho thuê

Tháng Mười 22, 2026
Bài sau
Trung tâm tư vấn pháp luật Toàn Tâm tuyên truyền Nghị định 102/2024 của Chính phủ và Luật Đất đai cho người dân và doanh nghiệp

Trung tâm tư vấn pháp luật Toàn Tâm tuyên truyền Nghị định 102/2024 của Chính phủ và Luật Đất đai cho người dân và doanh nghiệp

Recommended

Á hoàng Doanh nhân Việt Nam 2024 gọi tên Đặng Ánh Tuyết

Á hoàng Doanh nhân Việt Nam 2024 gọi tên Đặng Ánh Tuyết

2 năm trước
Bệnh viện Lê Văn Thịnh thăm và chúc mừng Viện Nghiên cứu Thị trường – Truyền thông Quốc tế và Tạp chí Doanh nghiệp và Trang trại Việt Nam nhân ngày 21/6

Bệnh viện Lê Văn Thịnh thăm và chúc mừng Viện Nghiên cứu Thị trường – Truyền thông Quốc tế và Tạp chí Doanh nghiệp và Trang trại Việt Nam nhân ngày 21/6

1 năm trước

Popular News

    Về chúng tôi

    Trung tâm tư vấn pháp luật Toàn Tâm (TTLCC) số giấy phép 36/TP/ĐKHĐ-TT do Sở Tư pháp Hà Nội cấp ngày 30/05/2023


    Giấy phép trang tin điện tử tổng hợp số 202/GP-TTĐT do Sở Thông tin Truyền thông Thành phố Hà Nội cấp ngày 21/9/2023


    Ts. Hồ Minh Sơn - Giám đốc
    Luật sư - ThS. Nguyễn Thành Hưng - Phó giám đốc
    Luật sư Phan Đức Hiếu - Phó giám đốc
    Chánh VP: Ông Hồ Vĩnh Chung

    Chuyên mục

    • An Ninh – Trật Tự
    • Giáo dục
    • Kinh tế
    • Kinh tế hội nhập
    • Luật sư
    • Nghiên cứu – Trao đổi
    • Pháp luật
    • Quốc tế
    • Uncategorized
    • Xã hội

    Trụ sở tại Hà Nội: BT01 - Galaxy 4 - KĐT Galaxy - Hà Đông - Hà Nội


    TP.HCM: 414, đường Huỳnh Tấn Phát, phường Bình Thuận, quận 7, TP.HCM


    Chi nhánh đồng Nai: Tổ 1, Khu Văn Hải, thị trấn Long Thành, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai


    Trưởng Chi nhánh: Luật sư - ThS. Nguyễn Thành Hưng


    Phạm Vũ Thiên Thi - Trưởng VPGD Địa chỉ : Số 1 Đoàn Thị Điểm

    © 2022 Thamvanphapluat.vn

    Không có kết quả
    Xem tất cả kết quả
    • An Ninh – Trật Tự
    • Giáo dục
    • Kinh tế
    • Kinh tế hội nhập
    • Luật sư
    • Nghiên cứu – Trao đổi
    • Pháp luật
    • Quốc tế
    • Xã hội

    © 2022 Thamvanphapluat.vn