Tham Vấn Pháp Luật
  • An Ninh – Trật Tự
  • Giáo dục
  • Kinh tế
  • Kinh tế hội nhập
  • Luật sư
  • Nghiên cứu – Trao đổi
  • Pháp luật
  • Quốc tế
  • Xã hội
  • An Ninh – Trật Tự
  • Giáo dục
  • Kinh tế
  • Kinh tế hội nhập
  • Luật sư
  • Nghiên cứu – Trao đổi
  • Pháp luật
  • Quốc tế
  • Xã hội
Không có kết quả
Xem tất cả kết quả
Tham Vấn Pháp Luật
Không có kết quả
Xem tất cả kết quả
Trang chủ Pháp luật

Không thể chờ có vụ việc mới xử lý đối với kinh doanh thực phẩm sai nguồn gốc

Tháng Tám 30, 2026
trong Pháp luật
Không thể chờ có vụ việc mới xử lý đối với kinh doanh thực phẩm sai nguồn gốc

(TV{PLO) – Có thể hiểu, thực phẩm sai hoặc không rõ nguồn gốc là những sản phẩm được bày bán, lưu thông nhưng người kinh doanh không thể xuất trình hóa đơn, chứng từ, nhãn mác hợp pháp để chứng minh nơi sản xuất, xuất xứ hoặc quá trình chế biến.

Từ thực tiễn thi hành Luật An toàn thực phẩm đã đặt ra yêu cầu chuyển đổi phương thức quản lý an toàn thực phẩm từ quản lý thủ công, phân tán, sang quản lý dựa trên dữ liệu số, liên thông, phục vụ phân tích nguy cơ, hậu kiểm, truy xuất nguồn gốc, cảnh báo và xử lý sự cố…

Cùng với đó, tình trạng kinh doanh hàng hoá không rõ nguồn gốc, xuất xứ diễn biến rất phức tạp, với nhiều thủ đoạn ngày càng tinh vi, trở thành vấn đề nổi cộm, thu hút sự quan tâm của người tiêu dùng. Hàng hoá không rõ nguồn gốc, xuất xứ không chỉ ảnh hưởng tới sức khoẻ, tài chính của người tiêu dùng mà còn làm giảm uy tín, niềm tin của người tiêu dùng vào các nhà sản xuất.

Điển hình, từ vụ việc liên quan “thịt trâu gác bếp” được quảng cáo là đặc sản Tây Bắc nhưng nguyên liệu có nguồn gốc từ Ấn Độ và nhiều vụ việc gần đây…Từ đó, muốn ngăn chặn tình trạng thực phẩm không rõ nguồn gốc, cần kiểm soát từ cơ sở sản xuất và định danh rõ người chịu trách nhiệm đối với sản phẩm bán trên môi trường mạng.

Cùng với đó, công tác quản lý hiện nay không chỉ dừng lại ở việc cấp phép, kiểm tra điều kiện cơ sở, thanh tra, xử lý vi phạm, mà còn đòi hỏi phải quản lý theo chuỗi, theo vòng đời sản phẩm, theo nguy cơ và trên cơ sở dữ liệu được cập nhật, chia sẻ kịp thời giữa các cơ quan quản lý.

Từ vụ việc này, vấn đề nằm ở chỗ sản phẩm được quảng bá là “thịt trâu gác bếp đặc sản Tây Bắc”, trong khi nguồn nguyên liệu không phải từ khu vực này. Qua đó, sai phạm ở đây là sự không trung thực về nguồn gốc, xuất xứ và cách dẫn dắt người tiêu dùng.

Người tiêu dùng thường hình dung thịt trâu gác bếp truyền thống được làm từ thịt trâu tươi, sau đó tẩm ướp và hun khói. Trong khi đó, thịt trâu đông lạnh nhập khẩu phải qua công đoạn rã đông trước khi chế biến nên chất lượng có thể khác thịt tươi.

Thế nhưng, không thể đồng nghĩa thịt đông lạnh với mất an toàn thực phẩm. Nếu được bảo quản, rã đông và chế biến đúng quy trình thì sản phẩm vẫn có thể bảo đảm an toàn. Ở sự việc này, vấn đề đáng lưu ý nhất là hành vi làm sai lệch thông tin về nguồn gốc, xuất xứ.

Trong khi đó, trên thị trường hiện vẫn còn nhiều sản phẩm như thực phẩm chức năng, dược liệu, trái cây… được quảng cáo không đúng bản chất. Một số người bán còn sử dụng hình ảnh, danh tiếng của người nổi tiếng để tạo niềm tin và thúc đẩy tiêu thụ.

Trong suốt thời gian qua, cơ quan chức năng đã xử lý một số người nổi tiếng có hành vi quảng cáo sai hoặc liên quan đến sản phẩm vi phạm. Tuy nhiên, vẫn còn những trường hợp chưa bị phát hiện và tiếp tục kinh doanh, quảng cáo. Khi lòng tham lấn át ý thức thượng tôn pháp luật, người bán có thể bất chấp hậu quả để tìm kiếm lợi nhuận.

Đặc biệt, về phía người tiêu dùng không nên đồng nhất danh tiếng của người quảng cáo với chất lượng sản phẩm. Một ca sĩ, diễn viên hay KOL có sức ảnh hưởng lớn trên mạng xã hội nhưng không đồng nghĩa có chuyên môn về an toàn thực phẩm, dược liệu hay dinh dưỡng.

Trong khi đó, những sản phẩm liên quan trực tiếp đến sức khỏe, người mua cần kiểm tra thông tin về cơ sở sản xuất, địa chỉ, nguồn gốc nguyên liệu, nhãn hàng hóa và các thông tin pháp lý liên quan. Không nên chỉ dựa vào lời giới thiệu của người nổi tiếng hoặc phản hồi trên mạng xã hội.

Đối với người bán, khi đưa sản phẩm ra thị trường phải chịu trách nhiệm về thông tin cung cấp. Nếu là thực phẩm thì phải tuân thủ các quy định về điều kiện sản xuất, an toàn thực phẩm, ghi nhãn và công bố sản phẩm. Bán hàng trên mạng không đồng nghĩa với việc đứng ngoài pháp luật.

Qua đó, nếu muốn xử lý tận gốc phải quản lý sản phẩm từ nơi sản xuất. Đối với thực phẩm, trước hết phải xác định cơ sở sản xuất ở đâu, ai chịu trách nhiệm pháp lý và cơ sở đó có đủ điều kiện sản xuất thực phẩm hay không.

Cơ sở sản xuất phải đăng ký kinh doanh đúng chức năng, cần phải đáp ứng điều kiện an toàn thực phẩm và thực hiện các yêu cầu về sản phẩm, bao bì, nhãn mác. Với những cơ sở áp dụng hệ thống quản lý chất lượng như HACCP, ISO 22000 và được tổ chức có thẩm quyền chứng nhận là cơ sở để đánh giá điều kiện sản xuất theo quy định.

Trở lại sản phẩm được giới thiệu là “thịt trâu gác bếp đặc sản Tây Bắc” thì cơ quan quản lý phải kiểm tra cơ sở sản xuất, nguồn nguyên liệu và thông tin trên nhãn. Nếu nguyên liệu là thịt trâu nhập khẩu thì không thể ghi hoặc quảng bá theo cách khiến người tiêu dùng hiểu đó là thịt trâu có nguồn gốc từ Tây Bắc.

Vì lẻ đó, rất cần tăng cường phối hợp giữa cơ quan quản lý chuyên ngành, lực lượng chức năng và chính quyền địa phương để rà soát các tài khoản, cơ sở kinh doanh thực phẩm trên môi trường mạng.

Khi phát hiện một cơ sở quảng cáo, bán thực phẩm công khai trên mạng, không chỉ kiểm tra tài khoản bán hàng mà phải truy ngược về cơ sở sản xuất, nguyên liệu đầu vào và quy trình chế biến.

Ngoài ra, cần nhìn nhận là năng lực kiểm soát của hệ thống quản lý nhà nước có thể chưa theo kịp sự phát triển của thị trường. Trong khi quy định, yêu cầu các cơ sở đăng ký và đáp ứng điều kiện an toàn thực phẩm, nhưng khâu kiểm tra sau đó còn hạn chế.

Mặt khác, quản lý vẫn có xu hướng nặng về tiền kiểm, yêu cầu doanh nghiệp đăng ký, công bố và thực hiện thủ tục, trong khi hậu kiểm chưa đủ mạnh. Nếu cơ sở đã đăng ký sản xuất thực phẩm nhưng không được kiểm tra thường xuyên thì rất khó phát hiện họ có thực sự sản xuất đúng những gì đã đăng ký hay không.

Pháp luật cũng cần tiếp tục hoàn thiện để theo kịp những sản phẩm mới và phương thức kinh doanh mới. Có những sản phẩm đưa ra thị trường nhưng chưa có tiêu chuẩn hoặc quy định kỹ thuật đầy đủ để làm căn cứ đánh giá.

Một ví dụ nữa, với những sản phẩm được gọi là “phở bò”, “phở gà”, nhưng nếu nguyên liệu thực tế không phải từ thịt bò hay thịt gà thì cần xem xét cách ghi tên và quảng cáo. Tương tự, một sản phẩm được gọi là “tương ớt” nhưng thành phần chủ yếu là tinh bột, chất tạo màu, phụ gia tạo vị cay thì cũng cần làm rõ bản chất. Vấn đề không phải là tên gọi, hình ảnh và thông tin quảng cáo không được khiến người tiêu dùng hiểu sai về bản chất sản phẩm.

Căn cứ theo Điều 18 Nghị định 115/2018/NĐ-CP quy định: Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với hành vi kinh doanh dịch vụ ăn uống mà không có Giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm, trừ trường hợp không thuộc diện phải cấp Giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm theo quy định của pháp luật và vi phạm quy định tại khoản 2 Điều 18; Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng đối với hành vi sản xuất, kinh doanh thực phẩm mà không có Giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm, trừ trường hợp không thuộc diện phải cấp Giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm và vi phạm quy định tại khoản 3 Điều 18; Phạt tiền từ 40.000.000 đồng đến 60.000.000 đồng đối với hành vi sản xuất thực phẩm bảo vệ sức khỏe mà không có Giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm đạt yêu cầu thực hành sản xuất tốt (GMP) thực phẩm bảo vệ sức khỏe theo lộ trình quy định của pháp luật.

Do đó, nhà hàng có thể bị phạt từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng với hành vi kinh doanh ăn uống với thực phẩm không rõ nguồn gốc. Đây là một mức phạt tương đối cao, nhằm răn đe và ngăn chặn các hành vi vi phạm, đảm bảo an toàn cho người tiêu dùng.

Căn cứ theo Điều 15 Nghị định 98/2020/NĐ-CP

Đối với hành vi kinh doanh hàng hóa nhập lậu, mức phạt tiền như sau: Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng trong trường hợp hàng hóa nhập lậu có trị giá dưới 3.000.000 đồng; Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng trong trường hợp hàng hóa nhập lậu có giá trị từ 3.000.000 đồng đến dưới 5.000.000 đồng; Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 4.000.000 đồng trong trường hợp hàng hóa nhập lậu có giá trị từ 5.000.000 đồng đến dưới 10.000.000 đồng; Phạt tiền từ 4.000.000 đồng đến 6.000.000 đồng trong trường hợp hàng hóa nhập lậu có giá trị từ 10.000.000 đồng đến dưới 20.000.000 đồng; Phạt tiền từ 6.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng trong trường hợp hàng hóa nhập lậu có giá trị từ 20.000.000 đồng đến dưới 30.000.000 đồng; Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng trong trường hợp hàng hóa nhập lậu có giá trị từ 30.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng; Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng trong trường hợp hàng hóa nhập lậu có giá trị từ 50.000.000 đồng đến dưới 70.000.000 đồng; Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng trong trường hợp hàng hóa nhập lậu có giá trị từ 70.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng; Phạt tiền từ 40.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng trong trường hợp hàng hóa nhập lậu có giá trị từ 100.000.000 đồng trở lên.

Phạt tiền gấp hai lần mức tiền phạt đối với hành vi kinh doanh hàng hóa nhập lậu quy định tại khoản 1 Điều 15: Người vi phạm trực tiếp nhập lậu hàng hóa có giá trị dưới 100.000.000 đồng hoặc từ 100.000.000 đồng trở lên mà không bị truy cứu trách nhiệm hình sự; Hàng hóa nhập lậu thuộc danh mục cấm nhập khẩu hoặc tạm ngừng nhập khẩu; Hàng hoá nhập lậu là thực phẩm, phụ gia thực phẩm, chất hỗ trợ chế biến thực phẩm, chất bảo quản thực phẩm, thuốc phòng bệnh và thuốc, nguyên liệu làm thuốc, mỹ phẩm, trang thiết bị y tế, hoá chất, chế phẩm diệt côn trùng, diệt khuẩn dùng trong lĩnh vực gia dụng và y tế, sản phẩm xử lý môi trường nuôi trồng thủy sản, sản phẩm xử lý chất thải chăn nuôi, thuốc thú y, phân bón, xi măng, thức ăn chăn nuôi, thuốc bảo vệ thực vật, chất kích thích tăng trưởng, giống cây trồng, giống vật nuôi.

Các mức phạt tiền quy định tại khoản 1 và 2 Điều 15: Hành vi cố ý vận chuyển hàng hóa nhập lậu; Hành vi cố ý tàng trữ hàng hóa nhập lậu; Hành vi cố ý giao nhận hàng hóa nhập lậu.

Căn cứ Điều 7 Thông tư 25/2019/TT-BYT: Thiết lập hệ thống dữ liệu truy xuất nguồn gốc sản phẩm thực phẩm, lưu trữ đầy đủ thông tin về lô sản phẩm thực phẩm, nguồn gốc, xuất xứ, an toàn sản phẩm, nguyên liệu, quy trình sản xuất, chế biến, bảo quản, kinh doanh sản phẩm thực phẩm theo quy định tại các Điều 4 và Điều 5 của Thông tư này; Lưu trữ và duy trì hệ thống dữ liệu thông tin truy xuất nguồn gốc sản phẩm thực phẩm của cơ sở trong thời gian tối thiểu là 12 (mười hai) tháng kể từ ngày hết hạn sử dụng của lô sản phẩm, 24 tháng kể từ ngày sản xuất lô sản phẩm đối với dụng cụ, vật liệu chứa đựng, tiếp xúc trực tiếp với thực phẩm và sản phẩm thực phẩm không yêu cầu bắt buộc ghi hạn sử dụng.

Vì vậy, cần tăng cường trách nhiệm của cơ quan quản lý trong kiểm tra, hậu kiểm. Việc kiểm tra phải đi từ điều kiện sản xuất, nhà xưởng, công nhân, thiết bị, nguyên liệu đầu vào, quy trình công nghệ đến sản phẩm cuối cùng.

Song song với đó, cần đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số để giảm tải cho cơ quan quản lý và giúp người tiêu dùng tự kiểm tra thông tin. Khi một cơ sở sản xuất thực phẩm thực hiện công bố sản phẩm, thông tin cần được đưa lên hệ thống dữ liệu có khả năng kết nối giữa địa phương và cơ quan quản lý chuyên ngành. Người tiêu dùng có thể tra cứu sản phẩm thuộc cơ sở nào, sản xuất ở đâu và những thông tin pháp lý liên quan.

Về lâu dài, các cơ sở kinh doanh thực phẩm trên môi trường mạng phải được định danh rõ ràng. Người bán là ai, cơ sở ở đâu, ai chịu trách nhiệm pháp lý về sản phẩm phải được xác định. Không thể để bán thực phẩm trên mạng trở thành một “vùng trống” trong quản lý.

Để xử lý thực phẩm giả không chỉ là bảo vệ sức khỏe người tiêu dùng mà còn bảo vệ môi trường kinh doanh. Cần chuyển từ tư duy chỉ xử lý khi vụ việc xảy ra sang chủ động kiểm soát từ cơ sở sản xuất, nguyên liệu đầu vào, chế biến, ghi nhãn, quảng cáo đến phân phối trên môi trường mạng. Không nhất thiết phải chờ đến khi gây ra hậu quả nghiêm trọng mới xử lý, bởi hành vi kinh doanh hàng hóa không rõ nguồn gốc đã là vi phạm pháp luật. Hậu quả xảy ra sẽ là tình tiết tăng nặng, có thể làm tăng mức độ xử phạt, có thể chuyển từ xử lý hành chính sang xử lý hình sự các hành vi vi phạm.

Muốn làm triệt để, cần có vùng sản xuất lớn, hợp tác xã hoặc doanh nghiệp thuê đất và tổ chức sản xuất tập trung thì mới bảo đảm truy xuất nguồn gốc đến tận nơi trồng. Ở phía Nhà nước, phía doanh nghiệp rồi đến người dân, chúng ta sẽ phấn đấu hướng tới môi trường lý tưởng, khi mà toàn bộ nền sản xuất theo chuỗi giá trị cùng toàn bộ doanh nghiệp thực hiện vì lợi ích lâu dài…

Luật gia Hồ Minh Sơn – Viện trưởng Viện Nghiên cứu Thị trường – Truyền thông Quốc tế (IMRIC); Giám đốc Trung tâm tư vấn pháp luật Toàn Tâm (TTLCC)

Bài viết liên quan

Từ 1/8, không được mang điện thoại vào phiên tòa nếu chưa được phép 
Pháp luật

Từ 1/8, không được mang điện thoại vào phiên tòa nếu chưa được phép 

Tháng Bảy 19, 2026
Từ ngày 1.7, phạm nhân được gọi video với người thân
Pháp luật

Từ ngày 1.7, phạm nhân được gọi video với người thân

Tháng Sáu 28, 2026
Tranh chấp tài sản sau ly hôn: Doanh nhân có thể mất nhiều năm nếu chọn sai cơ chế giải quyết
Pháp luật

Tranh chấp tài sản sau ly hôn: Doanh nhân có thể mất nhiều năm nếu chọn sai cơ chế giải quyết

Tháng Sáu 11, 2026
Người dân cần cảnh giác với lời mời chào ‘việc nhẹ, lương cao’
Pháp luật

Người dân cần cảnh giác với lời mời chào ‘việc nhẹ, lương cao’

Tháng Sáu 10, 2026

Recommended

Nhà báo – Luật gia Hồ Minh Sơn tiếp tục được Chủ tịch UBND tỉnh Bến Tre tặng bằng khen

Nhà báo – Luật gia Hồ Minh Sơn tiếp tục được Chủ tịch UBND tỉnh Bến Tre tặng bằng khen

2 năm trước
Bác sĩ Phan Hiệp Lợi – Giám đốc BV Thẩm mỹ Hiệp Lợi thăm, làm việc với Viện IMRIC, Viện IRLPIE và Tạp chí Nhiếp ảnh&Đời sống phía Nam

Bác sĩ Phan Hiệp Lợi – Giám đốc BV Thẩm mỹ Hiệp Lợi thăm, làm việc với Viện IMRIC, Viện IRLPIE và Tạp chí Nhiếp ảnh&Đời sống phía Nam

4 năm trước

Popular News

    Về chúng tôi

    Trung tâm tư vấn pháp luật Toàn Tâm (TTLCC) số giấy phép 36/TP/ĐKHĐ-TT do Sở Tư pháp Hà Nội cấp ngày 30/05/2023


    Giấy phép trang tin điện tử tổng hợp số 202/GP-TTĐT do Sở Thông tin Truyền thông Thành phố Hà Nội cấp ngày 21/9/2023


    Ts. Hồ Minh Sơn - Giám đốc
    Luật sư - ThS. Nguyễn Thành Hưng - Phó giám đốc
    Luật sư Phan Đức Hiếu - Phó giám đốc
    Chánh VP: Ông Hồ Vĩnh Chung

    Chuyên mục

    • An Ninh – Trật Tự
    • Giáo dục
    • Kinh tế
    • Kinh tế hội nhập
    • Luật sư
    • Nghiên cứu – Trao đổi
    • Pháp luật
    • Quốc tế
    • Uncategorized
    • Xã hội

    Trụ sở tại Hà Nội: BT01 - Galaxy 4 - KĐT Galaxy - Hà Đông - Hà Nội


    TP.HCM: 414, đường Huỳnh Tấn Phát, phường Bình Thuận, quận 7, TP.HCM


    Chi nhánh đồng Nai: Tổ 1, Khu Văn Hải, thị trấn Long Thành, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai


    Trưởng Chi nhánh: Luật sư - ThS. Nguyễn Thành Hưng


    Phạm Vũ Thiên Thi - Trưởng VPGD Địa chỉ : Số 1 Đoàn Thị Điểm

    © 2022 Thamvanphapluat.vn

    Không có kết quả
    Xem tất cả kết quả
    • An Ninh – Trật Tự
    • Giáo dục
    • Kinh tế
    • Kinh tế hội nhập
    • Luật sư
    • Nghiên cứu – Trao đổi
    • Pháp luật
    • Quốc tế
    • Xã hội

    © 2022 Thamvanphapluat.vn