(TVPLO) – Sáng ngày 28/03/2026, tại Bt01 – Galaxy 4 – KĐT Galaxy – phường Hà Đông, Thành phố Hà Nội và đầu cầu phía Nam tại số 414, đường Huỳnh Tấn Phát, phường Tân Thuận, Thành phố Hồ Chí Minh. Tại Đồng Nai (Tổ 1, Khu Văn Hải, Thị trấn Long Thành (cũ); tại Phú Quốc số 1, đường Đoàn Thị Điểm, phường Dương Đông, TP. Phú Quốc, An Giang; Phòng giao dịch số 65, đường Nguyễn Thị Thập, phường Tân Hưng, TP.HCM – Viện Nghiên cứu Thị trường – Truyền thông Quốc tế (IMRIC) phối hợp Viện Nghiên cứu Chính sách pháp luật&Kinh tế hội nhập (IRLIE) giao Trung tâm tư vấn pháp luật Toàn Tâm (TTLCC) đã tổ chức buổi tham vấn pháp luật miễn phí dành cho các doanh nghiệp thành viên Câu lạc bộ Doanh nhân IMRIC – IRLIE (Viện IMRIC) và Câu lạc bộ Báo chí Truyền thông&Chính sách pháp luật (Viện IRLIE…
Tại buổi tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật miễn phí lần này, các luật gia, luật sư và tư vấn viên pháp luật của Trung tâm tư vấn pháp luật Toàn Tâm trực tiếp tuyên truyền về 03tình huống pháp lý cụ thể như sau:
Trường hợp 1: Chồng có phải ký tên trong hợp đồng bán nhà khi vợ đứng tên sổ hồng không?

Thành viên CLB DN IMRIC – IRLIE nêu câu hỏi: Khi tôi mua nhà chung cư, chồng tôi đã ký giấy cam kết tài sản riêng. Sổ hồng một mình tôi đứng tên. Giờ tôi bán căn nhà đó, chồng tôi có phải đến ký hợp đồng bán nhà không?
Tại Điều 43 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, tài sản riêng của vợ, chồng gồm: tài sản mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng theo quy định tại các Điều 38, 39 và 40 của Luật này; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của mỗi người và các tài sản khác theo quy định pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ hoặc chồng.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 33 và khoản 1 Điều 40 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 – tài sản hình thành từ tài sản riêng của vợ, chồng cũng là tài sản riêng. Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân được thực hiện.
Tại Điều 44 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định vợ, chồng có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng của mình; đồng thời có quyền nhập hoặc không nhập tài sản riêng vào khối tài sản chung.
Trong trường hợp vợ hoặc chồng không thể tự mình quản lý tài sản riêng và cũng không ủy quyền cho người khác quản lý thì bên kia có quyền quản lý tài sản đó. Việc quản lý phải bảo đảm lợi ích của người có tài sản. Nghĩa vụ riêng về tài sản của mỗi người được thanh toán bằng tài sản riêng của người đó. Trường hợp hoa lợi, lợi tức từ tài sản riêng là nguồn sống duy nhất của gia đình thì việc định đoạt tài sản này phải có sự đồng ý của người còn lại.
Do đó, nếu quyền sử dụng đất là tài sản riêng của người vợ và giấy chứng nhận chỉ đứng tên người vợ thì người vợ có quyền bán mà không cần chữ ký của người chồng. Hợp đồng mua bán trong trường hợp này vẫn có hiệu lực pháp luật. Để hạn chế rủi ro và tránh phát sinh tranh chấp về sau, văn bản cam kết tài sản riêng của người chồng nên được lập và công chứng, chứng thực tại cơ quan có thẩm quyền.
Tình huống 2: Đất đã có quyết định thu hồi có được cấp sổ đỏ không?

Thành viên CLB DN IMRIC – IRLIE nêu câu hỏi: Đất gia đình tôi đang sử dụng được hình thành từ những năm 1980 và chưa được cấp sổ đỏ. Năm 2010, đất này nằm trong quyết định thu hồi đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhưng đến nay quyết định thu hồi đất vẫn chưa được thực hiện, gia đình tôi vẫn đang quản lý, sử dụng ổn định. Như vậy, gia đình tôi muốn xin cấp sổ lần đầu thì có đủ điều kiện để được cấp không?
Tại Điều 137, Điều 138, Điều 139 và Điều 140 Luật Đất đai năm 2024 – để xác định gia đình bạn có đủ điều kiện được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu đối với thửa đất nêu trên hay không, cần phải xem xét và đối chiếu hồ sơ, quá trình quản lý, sử dụng đất của gia đình bạn với các quy định pháp luật đất đai.
Trường hợp của gia đình quý doanh nhân, thửa đất đã nằm trong quyết định thu hồi đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền từ năm 2010. Thế nhưng, quyết định thu hồi đất này cho đến nay vẫn chưa được thực hiện và thửa đất vẫn do quý vị trực tiếp quản lý, sử dụng ổn định trong thời gian dài. Vì lẻ đó, việc xem xét khả năng được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cần căn cứ theo điểm đ khoản 1 Điều 151 Luật Đất đai năm 2024 quy định các trường hợp không cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất: “…đ) Đất đã có quyết định thu hồi đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, trừ trường hợp đã quá 03 năm kể từ thời điểm có quyết định thu hồi đất mà không thực hiện”.
Từ đó có thể hiểu rằng, về nguyên tắc đối với thửa đất đã có quyết định thu hồi đất thì người đang sử dụng đất sẽ không được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Mặc dù vậy, nếu quá 3 năm kể từ thời điểm có quyết định thu hồi đất mà không thực hiện việc thu hồi đất trên thực tế thì đất đó không thuộc trường hợp không được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Tại Điều 151 Luật Đất đai năm 2024, trường hợp của gia đình quý doanh nhân, mặc dù thửa đất đã có quyết định thu hồi đất từ năm 2010 nhưng đến nay cơ quan nhà nước có thẩm quyền vẫn chưa triển khai thực hiện việc thu hồi, cạnh đó gia đình quý vị vẫn đang quản lý, sử dụng đất ổn định thì theo quy định không thuộc trường hợp bị từ chối cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Căn cứ theo Luật Đất đai năm 2024, nhằm tháo gỡ những vướng mắc tồn tại trong thực tiễn quản lý đất đai, đặc biệt là đối với các trường hợp dự án treo hoặc quyết định thu hồi đất đã được ban hành nhưng không được triển khai trong thời gian dài. Với những trường hợp như vậy, pháp luật vẫn cho phép Nhà nước xem xét ghi nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất của người dân, qua đó bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người đang sử dụng đất ổn định trên thực tế.
Có thể thấy, trong quá trình hoạt động của Viện Nghiên cứu Thị trường – Truyền thông Quốc tế (IMRIC) thường xuyên phối hợp Viện Nghiên cứu Chính sách pháp luật&Kinh tế hội nhập (IRLIE) luôn xem công tác trợ giúp pháp lý góp phần giúp người dân giảm nghèo về pháp luật, do đó, Luật Trợ giúp pháp lý được Quốc hội thông qua năm 2006 và Luật Trợ giúp pháp lý được Quốc hội thông qua năm 2017 đều xác định người nghèo là nhóm đối tượng ưu tiên đầu tiên trong các nhóm đối tượng được trợ giúp pháp lý…
Đồng thời, truyền tải nội dung trên các trang tin điện tử, mạng xã hội, tạp chí in như: www.huongnghiepthitruong.vn (Viện IMRIC); www.chinhsachphapluat.vn (Viện IRLIE); www.tuvanphapluatvietnam.vn (Trung tâm TVPLMS); www.thamvanphapluat.vn (Trung tâm TTLCC); www.nghiencuupldautu.vn (Hiệp hội Nghiên cứu, Tư vấn về Chính sách, pháp luật cho hoạt động đầu tư tại Việt Nam “AVRCIPL”); www.bestlife.net.vn; www.vanhoacongdong.vn (Hiệp hội Phát triển Văn hoá cộng đồng Việt Nam)…Đặc biệt, www.vietbao.vn.
Qua đó, các hoạt động của Trung tâm tư vấn pháp luật Toàn Tâm về công tác trợ giúp pháp lý cho người nghèo, người yếu thế được triển khai đồng bộ, thống nhất trên toàn quốc và được thực hiện thường xuyên, trong đó chú trọng các hoạt động hỗ trợ trực tiếp cho người nghèo, người yếu thế như: thực hiện vụ việc trợ giúp pháp lý; truyền thông về trợ giúp pháp lý ở cơ sở; nâng cao năng lực đội ngũ người thực hiện trợ giúp pháp lý, đội ngũ người tham gia trợ giúp pháp lý…
Cùng với đó, các hoạt động trợ giúp pháp lý được Viện IMRIC; Viện IRLIE; Trung tâm tư vấn pháp luật Toàn Tâm tuyên truyền về các vụ việc trợ giúp pháp lý, với mong muốn ngày càng được nâng cao, nhiều vụ việc thành công, hiệu quả như người được trợ giúp pháp lý được tuyên không có tội hoặc được tuyên mức án nhẹ hơn hoặc chuyển tội danh hay thay đổi khung hình phạt thấp hơn so với mức đề nghị trong cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân…Đặc biệt, trongsuốt thời gian qua trợ giúp pháp lý đã thể hiện rất tốt vai trò của mình trong việc đảm bảo việc xét xử vụ việc khách quan, đúng người, đúng tội, tránh được oan sai cho người dân cũng như đã thực hiện thành công chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước dành cho người nghèo, các đối tượng yếu thế trong xã hội. Trợ giúp pháp lý đã giúp người dân sử dụng pháp luật khi có tranh chấp, vướng mắc, giúp người dân “giảm nghèo về pháp luật”, đảm bảo trật tự an toàn xã hội, người dân yên tâm lao động để giảm nghèo về kinh tế…
Trên đây là hai trường hợp điển hình, xin trích dẫn để quý doanh nhân tham khảo lan toả trong cộng đồng về công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật của Trung tâm tư vấn pháp luật Toàn Tâm để quý doanh nghiệp hoạt động kinh doanh hiệu quả, luôn luôn thượng tôn pháp luật.
Viện trưởng Viện IMRIC, Luật gia Hồ Minh Sơn – Giám đốc Trung tâm tư vấn pháp luật Toàn Tâm






