(TVPLO) – Theo GS-TS Đỗ Văn Đại, Án lệ số 78/2025 đã xác định việc góp vốn điều lệ để trở thành thành viên công ty và việc góp vốn để kinh doanh là hai vấn đề khác nhau…
TAND Tối cao vừa công bố 10 án lệ, trong đó có Án lệ số 78/2025 về xác định mục đích góp vốn vào công ty.
Nguồn án lệ dựa trên Quyết định giám đốc thẩm số 17/2022/KDTM-GĐT ngày 13-12-2022 của Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao vềvụ án kinh doanh thương mại, tranh chấp giữa thành viên công ty với công ty, nguyên đơn là ông H và bị đơn là công ty Đ.
Án lệ này do GS-TS Đỗ Văn Đại, Phó Hiệu trưởng Trường ĐH Luật TP.HCMvà TS Nguyễn Hải An, nguyên Phó Vụ trưởng Vụ Giám đốc, kiểm tra II (TAND Tối cao) đề xuất.

Hình minh họa.
Nội dung vụ án được chọn làm án lệ
Theo ông H, ông V và ông T (anh rể của ông V và ông H) có thành lập công ty Đ. Sau đó, ông V và ông T đã đề nghị ông H (đang làm ăn ở nước ngoài) có vốn nhàn rỗi, tham gia vào thành viên của công ty để huy động thêm vốn đầu tư về mặt bằng, nhà xưởng sản xuất, kinh doanh. Ông H đồng ý.
Ba ông thỏa thuận góp 1/3 phần vốn, mỗi người được hưởng quyền lợi và chịu nghĩa vụ tương ứng. Tuy nhiên, đăng ký kinh doanh thì vẫn giữ nguyên, chỉ ghi tên 2 người là ông V và ông T, vì ông H thời điểm đó chưa có chứng minh nhân dân, chưa nhập lại hộ khẩu về Việt Nam. Ngoài ra, do ông H thường xuyên ở nước ngoài, nếu đứng tên thì khi cần ký giấy tờ cũng không tiện.
Riêng ông H góp thêm 500 triệu đồng với lý do là ông không ở Việt Nam nên không tham gia vào hoạt động kinh doanh. Vì vậy, ông T, ông V mỗi người góp hơn 2,2 tỉ đồng; ông H góp hơn 2,7 tỉ đồng tương đương với 38% vốn điều lệ.
Tuy nhiên, từ đó đến nay, ông T vẫn không tiến hành thay đổi giấy đăng ký kinh doanh để đưa ông H vào làm thành viên của công ty, cũng không tiến hành họp hội đồng thành viên để thông qua báo cáo tài chính các năm cũng như việc chia lợi nhuận cho các thành viên góp vốn.
Từ tháng 9-2008, sau khi ông H có hộ khẩu và chứng minh nhân dân tại Việt Nam thì đã có nguyện vọng đưa tên vào công ty nhưng ông T không đồng ý.
Vì vậy, ông H khởi kiện yêu cầu xác định phần vốn góp của ông H và yêu cầu công ty Đ tiến hành làm thủ tục để bổ sung ông H là thành viên công ty với số vốn đã góp. Nếu không thì ông H có quyền liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để làm thủ tục ghi tên mình là thành viên của công ty.
Công ty Đ (do ông T là người đại diện theo pháp luật) cho rằng ông H gửi tiền để ông T và ông V kinh doanh và chia lãi. Ông T khẳng định số tiền này không phải góp vốn nên không chấp nhận yêu cầu của ông H.
Xử sơ thẩm ngày 11-11-2019, TAND TP Hà Nội chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông H.
Công ty Đ kháng cáo. Xử phúc thẩm, TAND Cấp cao tại Hà Nội không chấp nhận kháng cáo của công ty Đ, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Công ty Đ có đơn đề nghị xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm. Ngày 22-9-2022, Chánh án TAND Tối cao kháng nghị hủy cảhai bản án, giao hồ sơ cho TAND TP Hà Nội giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm. Sau đó, Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao đã chấp nhận kháng nghị này.
Nhận định của Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao
Theo Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao, theo khoản 13 Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2014 thì “góp vốn” là việc góp tài sản để tạo thành “vốn điều lệ” của công ty. Góp vốn bao gồm góp vốn để thành lập doanh nghiệp hoặc góp thêm vốn điều lệcủa doanh nghiệp đã được thành lập.
Thực tế, công ty Đ được thành lập năm 2001 có 2 thành viên góp vốn; đăng ký thay đổi doanh nghiệp các lần sau đó theo giấy chứng nhận cũng có 2 thành viên là ông T và ông V.
Theo biên bản họp hội đồng thành viên ngày 22-3-2017 thì các bên chỉ xác nhận việc góp vốn mà không có nội dung nào xác nhận đây là số vốn góp để thành lập công ty hay nâng vốn điều lệ. Các bên chỉ xác định việc chia lợi nhuận, thu nhập của mỗi người là 33,33% mà không có nội dung nào thể hiện nghĩa vụ và trách nhiệm của mỗi người tương ứng với phần vốn góp của mình.
Mặt khác, tại biên bản này, ông H tự xác định không điều hành việc kinh doanh của công ty. Nếu xác định đây là việc góp vốn để tăng vốn điều lệ của công ty thì việc tăng vốn này cũng chưa được công nhận vì chưa đăng ký và được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh theo Luật Doanh nghiệp.
Theo quy định thì vốn điều lệ, việc góp vốn điều lệ để trở thành thành viên công ty và việc góp vốn để kinh doanh là 2 vấn đềkhác nhau. Các bên không có thỏa thuận, không đăng ký tăng vốn điều lệ nhưng tòa án xác định ông H góp 33,3% vốn điều lệ là chưa đủ cơ sở. Thực tế thì sau khi thành lập công ty năm 2001, do thiếu vốn nên ông V, ông T có bàn bạc huy động vốn của ông H.
Như vậy, chỉ có cơ sở xác định ông H góp vốn kinh doanh, không phải góp vốn để tăng vốn điều lệ. Do đó, tòa án cấp sơ thẩm và tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông H, xác nhận ông H là thành viên của công ty với tỷ lệ vốn góp 1/3 là không phù hợp. Khi giải quyết lại vụ án, nếu không có chứng cứ nào khác thì cần bác yêu cầu khởi kiện của ông H.
Phân biệt rạch ròi các hình thức góp vốn
Trong thực tế, việc góp vốn với một công ty để cùng nhau hợp tác, kinh doanh rất phổ biến. Bên cạnh đó, việc góp vốn vào một công ty để công ty có vốn điều lệ tăng và dùng tiền đó kinh doanh cũng rất phổ biến.
Hai loại góp vốn này có điểm chung là bên góp vốn (cá nhân, pháp nhân) chuyển tài sản (nhất là tiền) cho công ty và thông thường công ty dùng tiền đó để hoạt động kinh doanh. Chính vì điểm chung đó mà thường có tranh chấp về việc xác định đó là góp vốn với công ty để hợp tác, kinh doanh hay góp vốn vào công ty.

GS-TS Đỗ Văn Đại, Phó Hiệu trưởng Trường ĐH Luật TP.HCM
Thực chất, đây là hai loại hình góp vốn khác nhau với hệ quả rất khác nhau và Án lệ số 78 cũng khẳng định “việc góp vốn điều lệ để trở thành thành viên Công ty và việc góp vốn để kinh doanh là 2 vấn đề khác nhau”. Loại góp vốn thứ nhất không trao cho bên góp vốn tư cách thành viên công ty và được chia lợi nhuận thu được từ việc khai thác nguồn vốn đã góp đồng thời phải chịu rủi ro từ việc sử dụng phần vốn góp (nhất là khi công ty kinh doanh thua lỗ).
Ngược lại, loại góp vốn thứ hai cho phép bên góp vốn trở thành thành viên của công ty với các quyền, lợi ích trong công ty. Ở đây, loại thứ nhất không làm tăng vốn điều lệ của công ty (chỉ tăng nguồn để kinh doanh), không làm tăng số lượng thành viên công ty nhưng loại thứ hai làm tăng vốn điều lệ công ty, làm tăng số lượng thành viên công ty.
Tôi và TS Nguyễn Hải An – nguyên Phó Vụ trưởng Vụ Giám đốc, kiểm tra II (TAND Tối cao) đề xuất Án lệ số 78 để tháo gỡphần nào khó khăn trong việc xử lý những bất đồng trong việc xác định một trong hai loại hình thức góp vốn trên.
Ở đây, án lệ xác định “Công ty đã thành lập, giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp đã thể hiện các thành viên góp vốn và sốvốn điều lệ. Sau đó bên góp vốn và công ty có thỏa thuận về việc góp vốn, chia lợi nhuận nhưng không thỏa thuận về việc tăng vốn điều lệ của công ty. Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp không thể hiện việc tăng vốn điều lệ. Trường hợp này, tòa án phải xác định việc góp vốn nhằm mục đích kinh doanh, không phải để tăng vốn điều lệ của công ty”.
Với hướng này, nếu “các bên không có thỏa thuận, không đăng ký tăng vốn điều lệ”, chưa có cơ sở để xác định có có góp vốn điều lệ và chưa có cơ sở để xác định người góp vốn trở thành thành viên của công ty. Lúc này, như Án lệ số 78 khẳng định “chỉ có cơ sở xác định góp vốn kinh doanh, không phải góp vốn để tăng vốn điều lệ”.
GS-TS Đỗ Văn Đại, Phó Hiệu trưởng Trường ĐH Luật TP.HCM
YẾN CHÂU
https://plo.vn/gs-ts-do-van-dai-noi-ve-an-le-78-va-cach-phan-biet-hai-loai-gop-von-post895472.html







